Bảo tồn và phát huy

TRANG CHỦ VỀ VĂN HÓA    SỬ KƯ ĐỊA DƯ ĐỊA DANH LỊCH SỬ
 SẮC DÂN VIỆT XĂ HỘI  VIỄT GIA Đ̀NH VIỆT VĂN HỌC MỸ THUẬT
PHONG TỤC VIỆT TÍN NGƯỠNG VIỆT GIÁO DỤC&DẠY CHỮ CÁC NGHỀ NGHIỆP CÁC LỄ HỘI
Y &TRANG PHỤC ẨM THỰC VIỆT Y & DƯỢC VIỆT VƠ & DƯƠNG SINH DU LỊCH
THUYẾT PHONGTHỦY LỊCH & TƯỚNG SỐ NIỀM TỰ HÀO NỖI LO ÂU VĂN NGHỆ
 

        

   Dân cư  Nam Bộ

    từ  thời Chúa Nguyễn

                 tới thời Pháp thuộc

1-  Địa Giới  Nam Bộ

         Địa Giới gồm Vùng Thuỷ  Chân Lạp và Vùng Lục Chân Lạp 

1/  --  Vùng Thuỷ  Chân Lạp

 Vùng Thuỷ  Chân Lạp bao gồm các tỉnh  thuộc  lănh vực  4 con sông  vĩ đại  chi phối.  Đó là những con sông  Tiền Giang, Hậu Giang, Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây.  Sông Tiền Giang và sông  Hậu Giang là hai nhánh sông  Mekong.   Sông Mekong khởi thủy cao độ  5.224 m   t Tây Tạng    chảy qua  Trung Quốc, Miến Điện,Thái Lan, Lào, Campuchia, rồi vào  Việt   Nam.   Rời Trung Quốc  nó độ cao chỉ c̣n khoảng 500 m so với mực nước biển. Ở cực nam Lào sông Mekong c̣n cao 18  m  tại  tỉnh Champasack.  Từ Nam Vang, sông Mekong chia ra hai nhánh:Tiền Giang và Hậu Giang.

Sông Tiền Giang  vào đất Việt  ở   xă Vĩnh Khương  (huyện Tân Châu An Giang).   Sông Hậu  vào lănh thổ Việt  tại  Khánh An, ( huyện An Phú An Giang). Sông  Tiền Giang và sông  Hậu Giang chảy ra biển qua  9 cửa l ớn:    Cửa Tiểu, Cửa Đại,  Cửa Ba Lai, Cửa Hàm Luông, Cửa Cổ Chiên, Cửa Cung Hầu, Cửa Định An, Cửa Bat Xác và Cữa Tranh Để,  nên   hai con sông này mang một tên là sông Cửu long

Related image

Sông Vàm Cỏ Đông  là nhánh  sông Mekong  chảy từ tỉnh Pray Viêng  Campuchia  chảy vào Việt Nam qua ngả Tỉnh Tây Ninh,  c̣n sông Vàm Cỏ Tây  là nhánh  sông Mekong  chảy từ tỉnh Sway Riêng  Campuchia  vào Việt Nam.   Sông này cùng với sông Tiền Giang tạo ra   khu vực Đồng Tháp Mười

Vùng Thuỷ  Chân Lạp  bao gồm tỉnh Tây Ninh và các tỉnh đồng bằng sông Cữu Long.   Người ta cũng gọi vùng này là vủng Tây Nam Bộ.

2/---Vùng Lục Chân Lạp  :

   Vùng Lục Chân Lạp bao gồm các tỉnh  thuộc lănh vực 3  con sông:  Đồng Nai, Sông Bé,  sông Sài g̣n

  Sông Đồng Nai xuất phát  từ Cao nguyên Lâm Viên Lâm Đồng  c ó  2 phụ lưu:  sông Đa Nhim  v à  sông La ngà. Nó  ra đến huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai th́ gặp sông Bé  cùng chảy qua thành phố Biên Ḥa, rồi chảy  qua  những quận 9Nhà BèCần Giờ.

Sông Bé xuất phát  từ tỉnh B́nh Phước.   Sông này gặp sông Đồng Nai trước khi tới tỉnh Biên Ḥa rồi đổ ra biển

, Sông Sài g̣n  xuất phát  từ tỉnh B́nh Phước, có độ cao khoảng 150m, nằm trong huyện Lộc Ninh, tỉnh B́nh Phước, rồi chảygiữa 2 tỉnh B́nh Phước và Tây Ninh, qua tỉnh B́nh Dương, , hợp với sông Đồng Nai, đổ ra biển

Vùng Lục Chân Lạp  gồm  c ác  tỉnh  B́nh Phước, B́nh Tuy ,  B́nh Dương,  Biên Ḥa ,Bà  rịa.     Người ta cũng gọi vùng này  là  vùng Đông Nam Bộ  hay vùng   đồng bằng Đồng Nai  Vùng Đồng Nai toàn rừng rậm mấy ngh́n dặm theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quư Đôn.

  2- Cư dân

 1 /  -   Cư dân bản địa

 Ở Vùng Thuỷ Chân Lạp:  người  Khmer  sinh sống vùng cao  như G̣ Công, Mỹ Tho, Long Hồ , Trà Vinh, Sóc Trang, v́ họ  không thích canh tác  ruộng trũng ở những nơi khác.

Ở Vùng Lục Chân Lạp : người Stieng &  Mạ sinh sống   ở vùng rừng  núi và cao nguyên

Người Stieng   thuộc dân tộc Xtiêng hiện nay có khoảng 40,000 người quần tụ vùng biên giới Tây Nam, ở các tỉnh Tây Ninh, B́nh Dương, Đồng Nai.

Người M thuộc dân tộc   Mạ khoảng 20,000 người cư ngụ ở vùng cực Nam Tây Nguyên, phía Nam tỉnh Lâm Đồng, và một số ở Đắc Lắc.

    2/    -   Cư dân nhập cư

  1/---Vùng  Thuỷ  Chân Lạp 

      Người Hoa :   Gia đ́nh Mac Cưủ  tới vùng Hà Tiên  &  nhóm Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến  tới  Mỹ Tho  năm 1679

      Người  Chàm:  từ  Malaysia  Hồi Giáo   và từ  Oudong  Phật  Giáo  tới  quy tụ tại  Tây Ninh, Châu Đốc  vào thời gian 1693 

    

2/  Vùng Lục Chân Lạp 

           Người  Việt  tự nguyện đến  trước  1620,  và rồi tăng dần  do  chính sách của  Chúa Nguyễn từ năm 1623 và năm 1658.

Năm 1658 triều đ́nh Chân Lạp có nội biến, thái hậu Ngọc Vạn đă khẩn cầu Chúa Nguyễn là Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần giúp quân đánh dẹp Nặc Ông Chân dành lại ngôi báu, bắt được Nặc Ông Chân giải về Quảng B́nh. Người Cao Miên nhượng (Gia Định Thông Chí, tr.7) vùng Mô Xoài, chính thức thuộc lănh thổ Việt Nam từ đó.

 

   3-  Thực trạng phân bố Cư Dân

 

 Thời Chúa Nguyễn và triều Nguyễn:

   Người Khmer:  cư ngụ tại  Thuỷ Chân Lạp, và  Lục Chân Lạp, đặc biệt  họ có mặt tại Đồng Nai, Tây Ninh, Ba thác, Trà  vinh. Họ sinh sống tại  các  phun sóc,  làm ruộng cao,  Đời sống  nghèo nàn.

 
 

  Người Chàm  cư trú tại Châu Đốc và Tây Ninh. Họ thường xuyên liên hệ  với người  Malaysia về mặt tôn giáo Hồi Giáo.

Người Mạ, Stiêng, Co ho   c ư ngụ   sinh sống  tại các vùng   Mô Xoài Bà Rịa – B́nh Phước  Biên Ḥa- B́nh Dương.   Tuy nhiên khi người Việt tới vùng này nhiều, th́ người các dân tộc thiểu số này rút lui dần.   Người  Stiêng rút lui về B́nh Phước, c̣n người Mạ và Coho rút lui về   Lâm Đồng, vả Đà lạt, nhường đất cho người Việt

Người   Mạ   th́  hiền lành, chuyên  nghề  dệt vải,  làm nhà sàn dài,  có  tục cà răng, xâu lỗ tai . Cỏn người Coho th́  tóc dài, búi sau gáy, bông tai bằng cây, xâm ḿnh .

 

Người Việt   đến  vùng Đông Phố , Biên Ḥa, Gia Định   trước và sau 1620.  Rồi  từ  năm  1658 họ đến  Mỏ Xoài ( Bà Rịa, Đất đỏ, Long Điền),  từ năm 1679 họ đến  Mỹ Tho & Long Hồ, từ  năm 1708 họ đến  Mang Khàm  Hà Tiên – v à  từ  năm 1755 họ đến  Tân An, G̣ Công v à sau c ùng từ  năm1756 họ đến    Ba Thác Trà Vinh.

 

Người Hoa  có 3 nhóm :

    - nhóm Dương Ngạn Địch & Hoàng Tiến đến   Mỹ Tho  năm  1679

    - nhóm  Trần thượng  Xuân   đến   Bàn Lân  Biên Ḥa  năm 1679  

     - và nhóm  Mac Cưủ  đến  Mang Khàm  Hà Tiên năm 1708.

     Nhưng sau này người Hoa  tản mác đi khắp nơi đất Nam Bộ .  Người ta nhận xét rằng nơi nào  có khói th́  có Hoa Kiều.        

   

    4-   Dân số

      Toàn Nam Bộ

                 A-  Thời Chúa Nguyễn và triều Nguyễn

Năm   1623  

          Người  Việt       5 vạn  hay 6 vạn                                                                

 Năm  1679

           Người  Việt:  hơn  10 vạn   ------- Người  Hoa :    3 ngàn

Năm 1698    

          Người Việt:  20 vạn    ---------    Người  Hoa:       4 vạn

Năm  1883  ( vua Tự Đức chết  ) 

          Người  Việt :   hơn 1 triệu -----Người  Hoa:    62000       

          Người    Khmer :     162.000      

 

                         B-  Thời Thuộc địa Pháp

Năm 1910

              dân cư Nam Bô   tổng số là:   2972.273 người

 

  Chú ư:

  1/   Riêng Đồng Tháp Mười  năm 1928

            Việt 80.000  ----  Khmer 20.000  -----   Hoa Kiu 10.000 ( 100.000 năm 1938)

      Riêng về người Hoa:

           Nhà khảo cứu  Đào Trinh Nhứt viết rằng   năm 1939   toàn Nam Bộ  có  1/2 triệu người Hoa  và  sau 1939   nhập cư 15000 mỗi  năm  theo tài liệu  Sở Tân Đáo ( Immigration)

 

  2/  Từ ngữ lóng  chỉ người Hoa:

                C ba Tàu------ chú Khách------- chú Chệch

       Nguyên do:      

  Chú ba tàu

     Người Việt  thấy thanh niên Hoa  thường   làm việc tại bến cảng, khuôn vác  hàng hóa lên  tàu và thuyền, nên họ  thường  quen gọi  các chú  thanh niên này là  các  chú  ba tàu. Từ từ

 "Chú  ba tàu " này trở thành từ ngữ chung chỉ người Hoa.

 

  Chú Khách

   Thời Chúa Nguyễn, người Việt  dành  làm  chủ  đất  Nam bộ là đất  của ḿnh chiếm được  v́ nắm số đông, c̣n cho  người Hoa  là khách  v́  họ thuộc thành phẩn thiểu số  không đáng kể.

Từ ngữ này từ từ trở thành từ ngữ chung  chỉ người Hoa .

  Chú Chch          

      Thành phần địa chủ người Việt   Nam Bộ v́  giầu có nên hách dịch không thích buôn bán  thường coi  rẻ ngườii Hoa  bằng câu nói:   "Ḿnh sẵn tiền của, để cho chú chệch nó làm đầy tớ cho,  như vậy có sướng không?"  Chữ Chệch  do sự phát âm  chữ Chinese mà ra chăng ?   Từ ngữ này từ từ trở thành từ ngữ chung  chỉ người Hoa .

5- Lănh vực  khai phá

 Người Việt  cũng như  những người Khmer, Stiêng, Mạ và Coho  hiểu thổ nhưỡng thời vụ và đất đai, trái lại người Hoa không quen hiểu thổ nhưỡng, chỉ sống ở thành phố .

Người Hoa chú trọng vào   thị tứ. Họ biến những chỗ đông người thành thị tứ nơi buôn bán ngũ cốc và hàng hóa.  Họ biến  chỗ  hai sông ng̣i giao nhau thành  cảng  chuyên chở hàng hóa bằng thuyền bè hay bằng tàu lớn. V́ hoạt động của họ mà có các  cảng như  cảng Cù Lao Phố, cảng Mang Khảm,  cảng Saigon.

    Trong khi  những người Stiêng,  Mạ, Co ho  chỉ chuyên về sơn điền, người Khmer  ưa  sơn điền và   thảo điền, th́ người Việt có khả năng khai phá  cả sơn điền, thảo điền  và ruộng sâu .  

Sơn điền ( Ruộng cao) thường thấy ở  Mỏ Xoài, Vàm Cỏ Đông, Bà Rịa Long Hồ.   Nơi  ruộng này, người ta chặt đốn cây.

Thảo điền (Ruộng trũng): thường thấy ở  Gia định, Bến Tre, Long Hồ, Mỹ Tho, Sóc trang,  Rạch Gía, Cà Mau.  Loại ruộng này ít lầy lội, người ta dùng  trâu cày.

  C̣n Ruộng sâu  (chẳng hạn ở vùng Đồng Tháp Mười)  người ta phải dùng sức người- với cái  phảng, rựa  và  người ta phải tự  đắp bờ đê  để cấy.

Nói vềruộng , th́ phải nói về lúa. Có  2 loại lúa

Lúa :: lúa canh: không dẻo, hạt nhỏ, mềm, thơm

          lúa thuật: dẻo, hạt tṛn và lớn   ( ngoài ra c̣n có  lúa  bắt chim, lúa tṛ cau, lúa nếp, nếp cẩm, nếp  hương,  lúa chiêm, lúa trảng cao.

Vụ Lúa : th́ c ó  Vụ mùa,  Vụ chiêm 

Phương thức canh tác ruộng lúa Quảng Canh và thâm canh, chịu ảnh hưởng người  Khmer

  6-   Đất Vô Chủ

       Thời  Chúa Nguyễn, vua Nguyễn và thời  thuộc địa Pháp  trước chiến tranh  thế giới 1914-1918  th́  Ruộng cao, Ruộng trũng, Ruộng sâu  đều là  đất vô chủ.   Khi khai phá xong th́ phải  bá cáo với  chính quyền.   Thời đó,   đất vô chủ  khắp cả vùng Nam Bộ.   Thường th́  Dân nghèo dựng  một cái Cḥi   đốn tràm làm cột, lá dừa lợp mái và làm vách—chồng làm ruộng  đánh cá--vợ nuôi heo, vịt . Riêng  vùng đất vô chủ  Đồng Tháp Mười có 2 loại lúa đặc biệt

Lúa Ma   hột nhỏ, đỏ, hơi cứng, có vị ngọt.   Lúa Ma là lúa trời, lúa dại, cao 4  m. Khi gặt  th́ người  ta đập ngọn lúa vào xuồng, lúa rụng vào thuyền, đập được vài giạ  trong một ngày.

Lúa Sạ ( lúa Miên)được  cố đạo Conte nhà thờ Năng Gù Long Xuyên  giới thiệu năm  1891 cho dân cư  cách trồng.  Nó là  loại lúa nổi nghĩa là nó   tăng trưởng  cao theo mực nước dâng cao. Lúa  này chỉ có gieo mà không cấy.

Đất vô chủ Đồng Tháp Mười chỉ cần phát cỏ  bằng cái phảng, rồi gieo vài giạ lúa Sạ giống.   Sạ  một  vài giạ lúa  th́  dư ăn  trong 1 năm  ( thành quả năm 1909 ).

Nói về làm ruộng ở Đồng Tháp Mười, th́ một mẫu tây, người dân  chỉ phát  10 công, nghĩa là mỗi Công  = 1/10 mẫu tây.  Phát 50 công (tức  5 mẫu tây)  rồi gieo 6 hay 5 giạ lúa Sạ, th́  gia đ́nh 4 người đủ ăn một  năm.

 Đồ ăn th́ quá dễ dàng,  v́ chỉ  đâm Cá  một lúc th́  được một xâu cá,  dễ dàng  chém cá lóc, bắt trích, c̣, lượm rùa , hái rau bông súng. Củi  th́ tre, sậy,  tràm dư đầy mọi chỗ.

   7-Cách làm ruộng lúa

Có 2 cách làm ruộng

  1-  làm lúa cấy       2- làm lúa sạ.

 1-Lúa cấy

     Thường là vụ mùa 6 tháng từ tháng 6 đến tháng 11 âm lịch. Nguồn nước chủ yếu là nhờ vào nước trời mưa, năm nào mưa thuận gió ḥa có đủ nước th́ trúng mùa.  Đầu mùa mưa, th́ nông dân cầy đám mạ. Đám mạ có diện tích bằng 1/10 miếng đất ḿnh có.

 

  2-Lúa Sạ

-    Lúa sạ th́ 3 tháng một  vụ. Vào những năm 1970 trở về sau, nông dân chỉ làm vụ mùa 3 tháng, nghĩa là  một năm nông dânlàm 3 vụ:

-          vụ hè thu từ tháng 5-6-7

-          vụ thu đông từ tháng 8-9-10

-          vụ đông xuân từ tháng 11-12-1

Sạ lúa th́  phải ngâm lúa giống cho lên mộng, mỗi công đất th́  nông dân sạ 20 đến 25 lít lúa. 

   8 -Đồng Tháp Mười

      Đi Đồng Tháp Mười:

 

    -Tuyến đường  từ  Saigon tới  Châu Thành Long An:

           Sàig̣n -àPhú lâm---àVàm Cỏ Đông--àBến Lức---àVàm Cỏ Tây-à-.Tân An ( Châu Thành ở ven  Đồng Tháp)

 

    -Tuyến đường  ṿng quanh  Đồng Tháp Mười

         Châu thành Long An--à.ngược  Vàm Cỏ Tây----à….G̣ Bắc Chiêng-----àSway riêng------à….theo kinh Cái Cỏ------à….Rạch Sở Hạ----à….Hồng Ngự------àSôngTiền Giang------à….Bắc Mỹ Thuận------àCai Lạy -----àvề Tân An.

 

   - Kích thước vùng Đồng Tháp Mười 

      Chiều ngang:   Hồng Ngự-------.Tân An=        120km

       Chiều Dọc:      Cao Lănh-------Saw riêng =      70km....

       Diện tích:                                                             8000km2...

       Ruộng                                                               = 800.000 mẫu Tây     

 

 Nếu Đồng Tháp Mười  có 800.000 mẫu mà chia  cho   800.000  gia d́nh 4 người    th́ nuôi được    3 triệu dân     ( 1/3 dân Bắc Việt năm 1939)

Nếu  Đồng Tháp   Mười  mà tính cả  Vàm Cỏ  Đông   th́ diện tích của nó = 1000.000  mẫu Tây, mà   mẫu Tây=3 mẫu ta ; ở Bắc Kỳ   ngưi nào  có 3 mẫu ta = Giầu.. Giầu nhất = 5,6 mẫu.

  

 Một vài nét  của Đồng Tháp

         -rừng tràm ngập phèn rộng  46 300   ha

         -5 loại cây

             Cây bằng    đươn nóp . Nóp bao dài 2m rộng 7 tấc làm mền chống muỗi

                Cây lát  làm chiếu

                Cây năng, đưng    lợp nhà

               Cây mù u  : hột làm dầu đốt

 9-    Khí hậu Nam Bộ & Ăn mặc

   Khí hậu mát mẻ, không mùa rét. Sáng xuân trưa hè  Đêm thu đông   25 -30 độ . Mùa nóng nhất   th́  đêm đắp chăn đơn.  V́ thế dân cư chỉ cần  tối thiểu  2 bộ quần áo  trong suốt một năm

Đàn ông  có th  mặc áo bà ba đen, có th  cởi trần ở nhà,  có th  mặc áo ngắn  và áo dài.. Họ có th mặc quần đen hay sà rông,   quấn khăn theo lối chữ nhân  khi ra đường.

Phụ nữ   th́ mặc áo bà ba với kiểu cổ tṛn, cổ trái tim hoặc cổ bà lai ,   thường có chiếc khăn vắt vai.    Chiếc khăn rằn thường có ô vuông xen kẽ hai màu.Chiếc khăn để trùm đầu, quàng cổ, vắt vai, làm khăn lau và là vũ khí pḥng hộ. pḥng bệnh, trị bệnh.

Con gái   th́ mặc  áo bà ba- quần tơ, đeo tế nhuyễn.

Thời Thuộc địa Pháp

  Cách Ăn mặc có   thay đổi .   Năm 1939 , những người giầu có  thường  nửa theo cũ nửa theo mới.  Ông già búi tóc đội nón tây, mặc áo dài ta nhưng mặc quần tây,  đội  khăn đống  mà  lại đi giầy ban.

Khi  Lao động th́  con gái  mặc  áo bà ba,  quần tơ, đeo  đồ tế nhuyễn- chèo xuồng tam bản

Đàn ông  đội nón lá, quần áo đen, lưng đeo Nóp,  mang  gói vài lít gạo và con khô mắm

   10  - Dân t́nh Nam Bộ:  

Vùng đất mênh mông,  dân cư sinh sống  dọc sông rạch,  thu lượm dễ dàng.  Đời sống ai nấy ung dung  thoải mái.   Môi trường sinh sống như vậy tạo cho con người tính t́nh rộng răi, phóng khoáng, hiếu khách.. Hơn nữa,  v́ chính quyền  trung ương  ở  xa nên  sự cai trị không chặt chẽ. . V́ vậy dân cư cảm thấy  tự do, không bị áp bức.  Họ có thể chèo  ghe  đi chỗ khác nếu họ muốn.   Hơn nữa, đất  th́ vô chủ, chỉ phát cỏ rồi gieo.   Về sinh nhai, chỉ cần có 1 cái phảng để cắt cỏ, vài gia lúa giống là đủ vốn để làm ăn.   Tới mùa mà khá th́ ở lại, nếu không  th́ chở cả gia tài xuống  xuồng phiêu lưu chỗ khác .  Chính v́ vậy mà  tính t́nh của dân Nam Bộ  phóng khoáng, không bị ép ḿnh, tâm hồn chân thật,  vui vẻ tự nhiên , không kiểu  cách,  mà lại  thân mật .

Phong cách ngưởi dân Nam Bộ được  ông Nguyễn  Hiến Lê viết trong cuốn sách nhan  đề “ 7 ngày  trong Đổng Tháp Mưởi“ như sau:

    "Non 20 năm  sống  trên đất Đồng Nai này, tới đâu tôi cũng được  tiếp đón một cách chân thành và thân mật .      Một đêm ở trên kinh Phong Mỹ, trong Đồng Tháp, vào đụt mưa trước  cửa một căn nhà lá. Lúc đó  đă quá 2 giờ khuya, một bà già ở trong nhà đằng hắng hỏi tôi. Tôi đáp. Tức th́ có  tiếng lục đục, rồi tiếng quẹt. Một  tia sáng lọt qua tấm vách lá, bà cụ mở cửa mời tôi vào. Căn nhà  kê mỗi bộ ván gỗ tạp. Một cô gái 17, 18 xếp vội mùng mền chào tôi. Bà cụ nhất định bắt tôi vào. Hai bà cháu tiếp chuyện tôi cho tới khi mưa ngớt.

Lần khác  vào vườn quit ở Tân Thuận, một bà góa chỉ đủ ăn tiếp đăi  1 cách cực ḱ đôn hậu, cố giữ tôi lại dùng bửa ăn thịnh soạn do chính tay bà nấu lấy.  

Những bà cụ ấy chất phát không biết sử kí  và địa lư nước Việt mà đối với tôi một người phương xa mới tới,  thân mật như người trong nhà, làm cho tôi nghĩ tới đầu óc địa phương của 1 số bạn có học thức của tôi. Họ mạt sát ǵ  không phải trong  cái xứ  của họ, c̣n giữ tinh thần hẹp ḥi th́ c̣n bị người ta chia rẻ, c̣n phải làm nô lệ.

 

   11 - Làng Xóm & Nhà ở  

  Làng xóm  ở  Nam Bộ  được  h́nh thành tự phát,  chứ  không bị ràng buộc trong  quy chế   như  ở  Bắc Bộ.  Những làng mạc ở Bắc Bộ  được h́nh thành  do hương ước ngặt nghèo.  Những thành viên trong làng xóm Nam Bộ  không cần  thuộc  gia tộc lớn nghĩa là không cùng ḍng máu. 

  Làng xóm  được h́nh thành trên đất giồng  g̣ cao hoặc  ở hai bên sông.

  Nếu được h́nh thành trên đất giồng  g̣, th́ giồng thường cao hơn mặt  đồng  1 m  cho tới 3  m,   rộng  tối thiểu  30 m.  Thường  những làng xóm này có những miệt vườn trồng  đủ mọi loại  cây trái xanh tưôi rất đẹp.    Miệt vườn những vườn  được tạo dựng  bởi   lưu dân Việt   xưa  vào  Nam Bộ khai phá sớm . Đó là những dăy đất giồng cao ráo mà những người đi mở đất đă chọn làm đất đứng chân v́ những nơi này thỏa măn những yêu cầu ban đầu cho người dân đi khai phá có nước ngọt, cao ráo, tránh được muỗi ṃng, rắn rết, trồng được những hoa màu ngắn ngày và có cái ăn để tồn tại.

  C̣n nếu được h́nh thành ở hai bên sông th́  tthường làng xóm ở  chỗ 2 hoặc 3 đường nước gặp nhau hoặc chỗ  các con sông giáp nước  (chỗ đổi con nước)  nơi ghe  thuyền chờ con nước sau.   Khi nhổ sào, các thuyền nhân   thường  cất tiếng  để từ biệt  nhau.

   Làng xóm  thường có  đ́nh  chùa, nhà việc hương chức và những quán bán hàng.

   Nhà  của dân cư trong làng xóm  chung chung  làm bằng vách ván, mái ngói hay lá.   Nhà có thể là  nhà nền đất, có thể là nhà sàn.    Ở những vùng đất thường ngập vào mùa nước lũ, th́ nhà sàn  là ưu tiên.

 

12-      Sinh hoạt hành chánh

        của  dân cư trong làng xóm

 

   Thời Chúa Nguyễn và triều Nguyễn,   việc hành chánh làng xóm như thế nào, chúng ta không biết rơ, chỉ có  được biết qua sách vở  rằng  thời  vua Minh Mạng nhà Nguyễn,  một làng được h́nh thành nếu có đủ  50 chủ gia đỉnh, và một ấp được h́nh thành nếu có đủ 30 gia đ́nh.

Thời Pháp Thuộc,  việc hành chánh   trong làng xóm được thực hành do một Ban Hội Tề.  Ban Hội Tề  gồm các nhân viên với các chức vụ và thứ vị như sau:

   -  Hương Cả:    hương chức đứng đầu, chủ tọa, giữ văn khố

   - Hương chủ:  phó chủ tọa, thanh tra các cơ quan, tường tŕnh lên hương cả

   - Hương sư: Cố vấn trong việc giải thích luật lệ, cũng  là giáo viên trong làng.

   - Hương  trưởng: Giữ ngân sách, giúp giáo viên, nhân viên ban chấp hành

   - Hương chánh: Hoà giải tranh chấp nhỏ của dân cư trong làng.

   - Hương giáo: Chỉ dẫn các hương chức trẻ, thư kư hội đồng

   - Hương quản: trưởng ban cảnh sát, kiểm soát hệ thống  giao thông , chuyển vận

   - Hương bộ : giữ  các bộ thuế và sổ  chi thu, trông nom tài sản chung  của làng xóm

   - Hương thân: hương chức giữa tư pháp và Ban Hội Tề 

   - Xă  Trưởng : hương chức  chấp hành, trung gian giữa làng  và chính quyền. Giữ Ấn  (dấu) 

                               của làng, đảm nhận việc thu thuế

   - Hương hào: hương chức chấp hành 

   - Chánh lục bộ: hộ tịch, báo cho dân làng biết khi có dịch tễ 

 
 

   Ngoài ra  tuỳ theo địa phương, có thể thêm         

         Hương lễ:  có nhiệm vụ trong các buỗi  tế lễ  

         Hương nhạc: âm nhạc

-         Hương Ẩm: hội hè, cỗ bàn

          Hương văn : soạn văn tế

-        Thủ Khoản: trách nhiệm ruộng nương, công điền

-         Cai  đ́nh: trách nhiệm trông coi cơ sở, đỉnh miếu

-         Hương thị: quản lư việc   trong chợ

13-  Đường Giao thông

    Thời Nguyễn

 Cho tới năm 1869 thời vua Tự Đức phương  tiện  giao thông  là ghe,  cáng  và đi ngựa   Qua Long Xuyên  phải mất  một ngày,  đi Gia Định phải mất  một tuần. Chính v́ vậy mà Cổ tục  được bảo tồn.    Đời sống  dân cư nhàn  hạ , ngồi nhai trầu,  ngao du dạo xóm,  bàn   chuyện cổ kim.

   Thời  thuộc địa Pháp 

Chánh quyền  xây cất đường bộ:   3.000 km từ Sàgon xuống đồng bằng sông Cữu Long và từ Sài g̣n đi miền  Đồng Nai

Chánh quyền  xây cất đường sắt:  

           –  Sài G̣n Mỹ Tho đầu tiên vào năm 1881  dài    71 km.

             Sài G̣n Mỹ Tho đầu tiên vào năm 1881  dài   71 km.

         -  Sài G̣n Hớn Quản Lộc Ninh    dài hơn 100km       

         -  Sài G̣n Khánh Ḥa   dài 408 km, 

           -   Sài G̣n Biên Ḥa

           -    Đường sắt nội ô  Sài G̣n,

 
 

 

   14-   Đời sống  Văn hóa của người Nam Bộ

     -Mê ḥ

Dân cư Nam Bộ   ở vùng sông Cửu Long và Đồng Tháp Mười  sống với  sông rạch và biển cả  thường ngẫu hứng với cảnh thiên nhiên sông nưới với những câu ḥ. Họ mê ḥ.

Giọng ḥ  đưa vút lên không, tan trong ánh trăng, tỏa trên mặt nước.   Nó là  một  tiếng gọi từ đáy ḷng con người gởi vào vũ trụ . 

Ḥ có nhiều giọng: giọng Bến Tre, Rạch giá, Cần Thơ.   Mỗi giọng, mỗi người ḥ mỗi khác . 

Ḥ là cả một nghệ thuật, người biết nghe có thể đoán đ ược  xứ sở, có khi gia thế, cùng tâm sự người ḥ nữa. Khi 2 ngưởi ḥ cùng tài hoa như nhau, lại cùng một nỗi ḷng, th́ không ǵ thú bằng, họ mê nhau ngay .

  Câu chuyện Ḥ

Anh chàng nọ  cày về, xuống rạch tắm, quần áo trên bờ. sẩm tối. Chiếc tam bản tiến tới, thiếu nữ cất tiếng ḥ,  điêu ḥ giọng ḥ vừa trong vừa ngân . Anh tưởng gặp được tri âm, cất tiếng  ḥ theo.Cô kia  đáp lại, có vẻ như bỡn cợt , nhưng vẫn mạnh tay chèo lướt trên nước như bay.   Anh chàng mê quá, nhảy lên bờ, lượm vội quần áo, hết sức chạy, không đuổi kịp tam bản,   không  rơ nét mặt.    

 Anh chàng ấy, chính là anh chàng  chở  ông  Nguyễn Hiến Lê đi làm công tác  thuỷ lợi mà chính  ông  kể lại trong cuốn sách của ông  nhan đề  “ 7 ngày trong Đồng Tháp Mười.

 

Sau đây xin liệt kê một vài câu ḥ

         -Trời xanh kênh đỏ  đất xanh,

          đỉa bu, muỗi cắn làm anh nhớ nàng-

          bao giờ cho lúa chin vàng,

          cắt rồi anh trở về làng thăm em

 

     -H ̣ o ó ớ   ớ  Em đừng ham chỗ  giầu sang

         Ơ  ơ   ơ  Tuổi cao t ác lớn mà trao thân vàng    ơ ơ ơ

  

    -Món ăn

   Một vài món ăn của Nam Bộ :   cá linh, món cá trui, rau đọt xoai, đọt bang lăng, khô rắn, khô chuột  cháo rắn hổ,   món nấu cá trê,   mắm Châu Đốc

   Đặc biệt món nấu cá trê  được  khách sảnh ăn khen như sau:

             Rau đắng nấu với cá trê

           Ai đến lục tỉnh th́ mê không về.

   C̣n độc đáo món  mắm thái Châu Đốc là một món ăn truyền thống đă được thi sĩ Tản Đà tấm tắc khen ngợi trong dịp ghé làng Long Kiến thăm chủ bút Nguyễn Thành Út, con thầy cai tổng Hống, đă chiêu đăi thi nhân rất hậu hĩ món đặc sản truyền thống này. Tản Đà được ăn món mắm thái Châu Đốc khen ngon, sau làm hai câu thơ ca tụng những món ăn đặc biệt Việt Nam, có cà Nghệ An và mắm Châu Đốc. Tản Đà đă khen ngon, chắc chắn khó ai chê vào đâu được nữa.  Thơ Tản Đà như sau 

               Hà tươi cửa biển Tu Ran, (Tourane tức Đà Nẳng)

            Long Xuyên chén mắm, Nghệ An chén cà.

 
 

   

   -Đời sống tâm linh của dân cư

     Ở Nam Bộ, đạo Khổng không phát triển bằng đạo Phật.

 Về đạo Phật th́  ở Bắc  Bộ,  làng nào cũng có chùa, phụ nữ  thường đi lễ Phật , song ít nhà  có bàn thờ Phật,  số người   ăn chay không đáng kể.,  có ăn chay, th́ chay tại chùa  khi dịp lễ bái.   Ở Nam Bộ th́  trong10 gia  đ́nh,  ta thấy  9 gia  đ́nh có  bàn thờ Phật  và bàn thờ ông Thiên, nhà nào cũng có người ăn chay, hương thắp trước mỗi nhà, có xóm  vang lên  tiếng tụng kinh gơ mơ.    Vào Rằm, và  mồng 1  ta thấy  không  kiếm  nổi  món thịt    hoặc món cá ở chợ  mà chỉ thấy  bán nhiều chay trường. 

Ở   Bắc Bộ tuyệt nhiên không có  như vậy  mà chỉ thấy    tứ thời  rau muống  tứ thời tương. Ở Nam Bộ   chùa  phát  ức van cuốn sách  hàng  mỗi năm.  Chùa chiền rất giầu, nhiều ruộng đất riêng , lộc nhiều: trái cây, bánh mứt ,nhang đèn.

 Bài biên khảo của PXK

 

Web Hit Counters